logoTNTT

 
 
 
 
You are here:: GIÁO LÝ Tài liệu huấn luyện GLV Lịch sử Cứu độ - Bài 5 - Các ngôn sứ
 
 

Lịch sử Cứu độ - Bài 5 - Các ngôn sứ

Chỉ mục bài viết
Lịch sử Cứu độ
Bài 1 - Bắt đầu Lịch sử Cứu độ
Chương 2 - Chuẩn bị công trình Cứu độ
Bài 2 - Chuẩn bị Dân Thiên Chúa
Bài 3 - Thành lập Dân Thiên Chúa
Bài 4 - Thời thủ lãnh và vương quốc
Bài 5 - Các ngôn sứ
Chương 3 - Thực hiện Công trình Cứu độ
Bài 6 - Hồng ân Cứu độ
Bài 7 - Thông phần ơn Cứu độ
Tất cả các trang

 

Bài 5 - CÁC NGÔN SỨ

Ngôn sứ (Nabi) là những người được Thiên Chúa kêu gọi để thi hành một sứ mệnh: họ nói lời của Thiên Chúa, nói thay cho Thiên Chúa. Lời lẽ Giavê đặt nơi miệng họ, họ không thể không nói ra. Một ngày nào trong đời họ được Thiên Chúa kêu gọi và họ không cưỡng lại được (Am 7,15; Is 6). Là người có kinh nghiệm, hiểu biết trực tiếp về Thiên Chúa, đã lãnh nhận mạc khải về sự thánh thiện và ý định của Chúa, các ngôn sứ được sai đi để nhắc nhở con người về những đòi hỏi của Thiên Chúa, để đưa họ về con đường vâng phục và yêu mến Chúa.

Sứ điệp của các ngài chỉ nhằm vào một thời đại nhưng chân lý và tầm quan trọng của sứ điệp đó là cho mọi thời (vì các ngài chỉ là công cụ của Thiên Chúa). Các ngài loan báo sứ điệp không chỉ bằng lời nhưng còn bằng cả đời sống (Hs 1-3; Gr 16), bằng những hành vi tượng trưng (Is 20,3; 8,18). Nhiệm vụ ngôn sứ rất phũ phàng, vì thường bị đánh đập, sỉ nhục, tù đày, giết chóc. Lời của các ngôn sứ dù bị những người cùng thời từ chối, lại trở thành hạt giống và phát triển được ngay trong đất lưu đày. Các ngài giúp dân nội tâm hóa lòng  tin.

Những vấn đề quan trọng thường được các ngôn sứ nói đến là :

- Chỉ thờ phượng một Thiên Chúa thật, Ngài là Đấng Siêu Việt, là chủ vũ trụ. Công kích việc thờ ngẫu tượng.

-  Sự thánh thiện trong tâm hồn, phải giữ đạo thật lòng nghĩa làkính sợ, yêu mến Thiên Chúa và vâng phục Người.

- Loan báo Đấng Cứu Thế : hình phạt chưa phải là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa, Đấng hoàn tất những lời đã hứa, dù dân có bội phản.

Truyền thống Hội Thánh chia các ngài thành 2 loại :

. Ngôn sứ lớn: Isaia, Giêrêmia, Êzêkiel, Đaniel.

. Ngôn sứ nhỏ: Hôsê, Giôel, Amos, Ovađia, Giôna, Mikha, Nakhum, Habacuc Xôphônia, Khắcgai, Giacaria, Malakia.

- Điều các ngôn sứ loan báo thường lưỡng diện: vừa nghiêm khắc, vừa có tính trấn an. Sứ điệp ấy thường có vẻ cứng cỏi, đầy đe dọa và trách cứ đến độ người ta coi tính cách nghiêm khắc này như một dấu chứng: lời tiên tri là đích thực. Vì tội lỗi của dân hằng ám ảnh các ngôn sứ. Nhưng viễn ảnh về sự tha thứ, giải thoát không bao giờ bị đóng kín và niềm vui mừng cũng là nội dung sứ điệp của các ngài.

I. Các ngôn sứ trước thời lưu đày :

1) Miền Bắc: Nước Israel bị xáo trộn vì tranh cướp ngôi vua.

* Elia : chống lại vua Akhap và hoàng hậu Izaben (người Phênixi) trong việc giết Nabot và cuộc lễ tại núi Carmen.

* Êlisêo: nổi tiếng hay làm phép lạ (Naaman,...)

* Amos: là người miền Nam được gọi làm tiên tri ở miền Bắc. Ông tố cáo sự bất công xã hội và việc sùng bái ngẫu tượng.

* Hôsê: sống điều ông giảng. Vợ ông sớm bỏ ông sống đời gái điếm, ông tìm kiếm, đưa về và yêu thương. Từ kinh nghiệm bản thân về tình yêu, ông hiểu tình yêu của Thiên Chúa với Israel hơn. Hôsê đã đưa vào Thánh Kinh hình ảnh hôn nhân giữa Thiên Chúa và loài người: Ngài muốn lòng nhân nghĩa chứ không phải lễ tế.

Lời Chúa: đanh thép (Amos) hay ngọt ngào (Hôsê), dân miền Bắc cũng không chịu nghe. Nên ngày của Thiên Chúa đã đến: đế quốc Assur chiếm thủ độ Samari (năm 721),
bắt dân Israel đi đày và đưa những người ngoại bang đến (2V 17-24), biến dân này thành một dân lộm xộn, tôn giáo lai căng.

2) Miền Nam:

Nước Giuđa tương đối ổn định hơn nhưng cũng có bất công xã hội và sùng bái ngẫu tượng. Chúa sai các ngôn sứ đến ngăn chặn để họ khỏi lao xuống vực thẳm.

Isaia và Mikha là hai vị khởi đầu sứ vụ lúc ngôn sứ Amos và Hôsê chấm dứt.

* Isaia: Sứ vụ của Isaia là loan báo sự sụp đổ của Israel và của Giuđa - hình phạt những bất trung của dân. Vị ngôn sứ phê phán sự đồi trụy về luân lý do việc thịnh vượng kinh tế đem lại cho Giuđa. Ông muốn người ta khước từ mọi liên minh quân sự và đặt tin tưởng vào Thiên Chúa. Isaia là tiên tri của lòng tin. Ông cho biết thử thách sẽ rất nặng nề, nhưng ông trông cậy “số sót” sẽ được dung tha và Đấng Messia là Vua của họ. Sách mang tên ông là kết quả của một công trình soạn tác lâu dài qua nhiều thế kỷ.

* Mikha: là người Giuđa, vị ngôn sứ ý thức rõ rệt ơn gọi của mình. Mikha thóa mạ kẻ giàu cướp bóc, kẻ cho vay vô lương tâm, những con buôn gian lận, những gia đình chia rẽ, các tư tế và tiên tri tham lam, các thủ lãnh độc tài, các quan tòa ăn hối lộ. Tuy nhiên ngôn sứ cũng còn giữ một niềm cậy trông: “Tôi trông cậy vào Thiên Chúa tế độ tôi”.

* Giêrêmia: sau Isaia gần một thế kỷ, được Thiên Chúa gọi trong một gia đình tư tế. Ông chứng kiến tình thế bi đát của Giuđa: “Hãy rảo các phố phường Giêrusalem mà nhìn cho tỏ, hãy tìm các công trường xem có kiếm được một người, một người mà thôi biết giữ công lý, biết tìm sự thật, để Ta tha tội cho thành”. Ông bị người đồng thời đe dọa giết nếu còn vâng lệnh Thiên Chúa mà loan tin dữ cho dân, nhưng ngôn sứ không thể làm thinh vì Giêrusalem đã sa đọa tột độ: “Từ nhỏ đến lớn, từ bậc tiên tri đến hàng tư tế, tất cả đều gian dối”. Sự sâu xé của một tâm hồn (Gr 20,7-9; 14-18), sinh ra để yêu mến nay được sai đi “để nhổ và lật đổ, để hủy và để phá”. Sứ mạng đã tẩy luyện lòng ông và mở rộng lòng ông trước cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Điều mà Giêrêmia gần gũi chúng ta hơn cả là lòng đạo thâm sâu và tâm tình ông đã sống trước khi loan báo (Gr 31,31-34). Ông bị ngược đãi : đánh đòn, đeo gông (20,2), giam cầm (37,15-16), bị quăng xuống bùn (38,5-6) nhưng không bỏ cuộc.

II. Các ngôn sứ thời lưu đày Babilon và phục hưng

Giêrusalem bị vua Nabuchodonosor đánh chiếm dưới thời vua Gioakim năm 597. Thành phần ưu tú bị lưu đày. Thành thánh lại bị chiếm năm 587, bị triệt hạ và làn sóng lưu đày càng dồn dập. Đợt cuối là vào năm 582.

Giuđa đã chìm sâu trong trụy lạc, sùng bái ngẫu tượng và bất công. Tệ hơn nữa là sự chuộng tôn giáo hình thức, niềm tin không ăn rễ sâu trong tâm hồn, làm cho việc giữ đạo thành giả hình và phỉ báng Thiên Chúa. Vậy cần chữa trị tận gốc chứ không phải chỉ trên bề mặt. Thiên Chúa là nhà phẫu thuật làm cho dân đau đớn để chữa trị, và sự lưu đày là con dao Người dùng để mổ xẻ.

Xa cách đền thờ, người ta không còn lấy lễ tế dâng thay cho mình và vì trong cảnh lưu đày, con người còn biết lấy gì dâng lên ngoài chính mình ? Không còn đền thờ và lễ tế, dân chúng bắt đầu đặt tầm quan trọng nhiều hơn vào việc tìm hiểu Lời Chúa

* Ezékien: thuộc gia đình tư tế bị lưu đày năm 597. Suốt sứ mạng 22 năm : trước tiên ngài loan báo hình phạt để may ra dân chúng thức tỉnh mà sám hối để được tha phạt. Nhưng sau khi tai họa xảy đến, Ngôn sứ thực hiện sứ mạng an ủi và nâng đỡ niềm hy vọng cho dân. Sứ điệp của ông được tóm tắt trong 3 điều chính :

- Thiên Chúa ở khắp mọi nơi: Ngài không bị ràng buộc ở Giêrusalem.

- Trách nhiệm cá nhân : mỗi người phải chịu trách nhiệm  với chính mình trước Thiên Chúa.

- Hứa sẽ có một cuộc xuất hành mới ra khỏi Babylon và hứa sẽ ban những phúc lộc của Thiên Chúa (cánh đồng xương khô - Ez 36).

Môn đệ của Isaia (40-55) cũng góp phần nâng đỡ những người bị lưu đày. Is 40-50 cũng được gọi là “Sách niềm an ủi của Israel”.

* Haggai và Giacaria: xuất hiện khi thời lưu đày chấm dứt. Đa số những người Do Thái từ Babylon trở về đều còn trẻ nên trước kia chưa bao giờ thấy Giuđa. Họ bị vỡ mộng trước viễn cảnh trái ngược giữa các thành phố phồn thịnh ở Babylon mà họ vừa rời bỏ với cảnh điêu tàn ở Giuđa. Haggai có mặt trong giai đoạn đầu của cộng đoàn Do Thái, cổ võ việc xây dựng đền thờ. Các ngài còn nhắmđến các việc phục hưng dân tộc và chỉnh đốn nền đạo đức.

Chúng ta còn thấy xuất hiện những khuôn mặt khác nữa : quan Néhémia và tư tế Ezra. Các ông cũng đã nỗ lực ổn định đời sống của dân và khuyến khích dân gắn bó tình nghĩa với Giavê Thiên Chúa. Các hội đường, nơi mà giới luật được giảng dạy, được hình thành.

* Malaki: tố cáo sự vô luân và bất công xã hội, gây nguy hại cho sức khỏe thiêng liêng của dân. Ngài cũng cảnh cáo các tư tế phục vụ thiếu hứng thú và những lễ tế tầm thường của dân.

III. Các ngôn sứ và Đấng Cứu Thế:

Sứ mạng của các ngôn sứ gắn liền với các biến cố lịch sử Israel cho tới thời lưu đày. Xem ra các ngôn sứ không thoát ra khỏi viễn ảnh một cuộc cứu độ nằm trong lãnh vực quốc gia mà thôi. Tuy nhiên, lời của các ngài trở thành hạt giống và phát triển ngay trong mảnh đất lưu đày. Bình minh ơn cứu độ hé mở cho “số sót” đang hồi sinh trong sám hối và hy vọng. Tôn giáo thoát ly khỏi lớp vỏ quốc gia và trần thế.

1) Trông đợi một vua cứu thế:

Messia là “người được xức dầu” : trước tiên chỉ về vua, là người đảm nhiệm một quyền của thần thánh mà vua Đavid là tiêu biểu. “Ta sẽ dựng lại chòi của vua Đavid” (Am 9,11); "Ta sẽ cho chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng, đó là Đavid tôi tớ của Ta” (Ez 34,24); “Belem, miền Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì nơi ngươi vị thủ lãnh chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời” (Mk 5,1).

2) Đấng Cứu Thế từ trời xuống là “con người”:

Ngài được ban cho quyền bính, vinh quang và vương triều. Và mọi dân tộc, mọi quốc gia mọi người đủ thứ tiếng nói sẽ phục vụ Ngài. Quyền bính Ngài là quyền bính vĩnh cửu không bao giờ qua đi và triều đại Ngài sẽ không bao giờ bị tiêu hủy (Dn 7,9-14).

3) Đấng Cứu Thế là người tôi tớ đau khổ :

“Ngài không la lối, không lớn tiếng. Cây sậy dập Ngài không nỡ bẻ, tim đèn leo lét Ngài không thổi tắt”; “Ngài đã bị đâm vì sự ngỗ nghịch của chúng tôi” (Is 53,5); “Nhờ những đau khổ Ngài chịu mà chúng tôi được hưởng ân phúc (Is 53,12).